Thu mua tài sản do trộm cắp có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Thu mua tài sản do trộm cắp có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Người thu mua tài sản biết rõ do trộm cắp sẽ bị phạt tù từ 6 tháng đến 15 năm. Nếu không biết thì không bị xử lý hình sự nhưng vẫn phải hoàn trả tài sản.

Việc tiêu thụ, thu mua tài sản do trộm cắp không chỉ tiếp tay cho hành vi phạm tội mà còn gây mất trật tự xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp của người dân. Pháp luật Việt Nam đã có những quy định rõ ràng để xử lý nghiêm khắc người thu mua khi biết rõ tài sản có được từ hành vi phạm tội. Tuy nhiên, cũng có trường hợp người mua không hề biết nguồn gốc bất hợp pháp của tài sản, khi đó pháp luật lại có cách xử lý riêng, chủ yếu liên quan đến việc hoàn trả tài sản.


1. Thu mua tài sản do trộm cắp có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Trả lời vắn tắt: . Người nào biết rõ tài sản do trộm cắp mà có nhưng vẫn thu mua thì bị xử lý hình sự theo Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015, với mức phạt tù từ 6 tháng đến 15 năm tùy theo giá trị tài sản hoặc mức độ thu lợi bất chính.

Thu mua tài sản do trộm cắp có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) quy định như sau: 

Bộ luật Hình sự 2015 

Điều 323. Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tài sản trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;

d) Thu lợi bất chính từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội với tài sản trị giá từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng hoặc thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 10 năm.

4. Phạm tội với tài sản trị giá từ 1.000.000.000 đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính từ 300.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Theo Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015, việc thu mua hoặc chứa chấp tài sản do trộm cắp mà có được coi là hành vi tiếp tay cho tội phạm và sẽ bị xử lý hình sự nếu người mua biết rõ nguồn gốc bất hợp pháp của tài sản. Khung hình phạt được chia theo mức độ: từ 06 tháng đến 03 năm tù ở mức cơ bản; từ 03 đến 07 năm tù nếu phạm tội có tổ chức, chuyên nghiệp hoặc tài sản có giá trị từ 100 đến dưới 300 triệu đồng; từ 07 đến 10 năm tù khi tài sản từ 300 triệu đến dưới 1 tỷ đồng; và từ 10 đến 15 năm tù nếu tài sản từ 1 tỷ đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính trên 300 triệu đồng. Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị phạt bổ sung bằng tiền hoặc tịch thu một phần, toàn bộ tài sản, thể hiện sự nghiêm khắc của pháp luật trong việc ngăn chặn tình trạng tiêu thụ tài sản phạm pháp.

Tình huống giả định

tội “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”

  • Người mua tài sản biết rõ nguồn gốc bất hợp pháp
    Ngày 15/8/2025, ông Nguyễn Văn Hậu, trú tại Phường Chợ Lớn, TP. Hồ Chí Minh, gặp một người lạ chào bán 5 chiếc điện thoại mới với giá chỉ bằng một nửa so với thị trường. Dù biết rõ đây là tài sản do trộm cắp mà có, ông Hậu vẫn đồng ý mua để bán lại kiếm lời. Hành vi này khiến dư luận địa phương xôn xao vì tính chất coi thường pháp luật.
  • Hậu quả và phát hiện
    Sau khi điều tra một vụ trộm cửa hàng điện thoại, công an xác định số tài sản bị mất đã được bán cho ông Hậu. Tang vật có giá trị 250 triệu đồng, thuộc khung nghiêm trọng. Việc ông Hậu tiếp tay cho kẻ trộm khiến công tác điều tra phức tạp hơn và kéo dài thời gian tìm lại tài sản cho bị hại.
  • Xử lý theo quy định pháp luật
    Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Hồ Chí Minh khởi tố ông Hậu về tội “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015. Với giá trị tài sản từ 100 đến dưới 300 triệu đồng, ông Hậu phải đối mặt với mức án từ 03 năm đến 07 năm tù, đồng thời có thể bị tịch thu một phần tài sản thu lợi bất chính.

Tình huống trên đây là tình huống không có thật, chỉ mang tính tham khảo.


2. Thu mua nhưng không biết đó là tài sản trộm cắp có phải hoàn trả không?

Trả lời vắn tắt:. Người mua ngay tình sẽ không bị xử lý hình sự, nhưng giao dịch vô hiệu, và họ có nghĩa vụ hoàn trả tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp.

Thu mua nhưng không biết đó là tài sản trộm cắp có phải hoàn trả không?

Điều 123, Điều 131, Điều 167 Bộ luật Dân sự 2015 quy định như sau: 

Bộ luật Dân sự 2015

Điều 123. Giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội

Giao dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì vô hiệu.

Điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định.

Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng.

...

Điều 131. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

2 Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.

...

Điều 167. Quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình

Chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản không phải đăng ký quyền sở hữu từ người chiếm hữu ngay tình trong trường hợp người chiếm hữu ngay tình có được động sản này thông qua hợp đồng không có đền bù với người không có quyền định đoạt tài sản; trường hợp hợp đồng này là hợp đồng có đền bù thì chủ sở hữu có quyền đòi lại động sản nếu động sản đó bị lấy cắp, bị mất hoặc trường hợp khác bị chiếm hữu ngoài ý chí của chủ sở hữu.

Nếu người thu mua không biết tài sản là do trộm cắp, họ được coi là người chiếm hữu ngay tình. Tuy nhiên, theo BLDS 2015, giao dịch mua bán tài sản trộm cắp là giao dịch vô hiệu vì vi phạm điều cấm của luật: người bán không có quyền định đoạt tài sản. Do đó, chủ sở hữu thật sự có quyền đòi lại tài sản, bất kể tài sản đã chuyển cho người mua ngay tình.

Người thu mua phải trả lại tài sản, còn bên bán (người phạm tội) phải trả lại số tiền đã nhận. Nếu tài sản không thể hoàn trả bằng hiện vật (ví dụ đã bị sử dụng, hư hỏng, bán tiếp cho người khác), thì người mua phải hoàn trả bằng tiền tương ứng. 

Tình huống giả định

buộc phải hoàn trả chiếc xe cho chủ sở hữu hợp pháp

  • Người dân mua xe máy cũ giá rẻ
    Ngày 05/9/2025, anh Trần Văn Khánh, trú tại Phường Khánh Hội, TP. Hồ Chí Minh, mua một chiếc xe máy cũ với giá 18 triệu đồng từ một người quen. Anh Khánh tin tưởng vì giao dịch có giấy viết tay và nghĩ rằng đây chỉ là một vụ mua bán bình thường. Anh hoàn toàn không biết chiếc xe này thực chất là tài sản do trộm cắp mà có.
  • Phát hiện nguồn gốc tài sản
    Vài tuần sau, trong quá trình tuần tra, công an phát hiện số khung, số máy của xe trùng khớp với tang vật trong một vụ trộm cắp đã được trình báo trước đó. Chủ sở hữu thật sự là một người dân sống tại nơi khác, đã trình báo mất xe. Cơ quan công an xác định anh Khánh không hề biết nguồn gốc bất hợp pháp của chiếc xe, nên được coi là người chiếm hữu ngay tình.
  • Xử lý hậu quả giao dịch vô hiệu
    Theo Bộ luật Dân sự 2015, giao dịch mua bán này được xác định là vô hiệu. Anh Khánh buộc phải hoàn trả chiếc xe cho chủ sở hữu hợp pháp. Người bán tài sản (kẻ trộm) có trách nhiệm trả lại 18 triệu đồng cho anh Khánh, nhưng do người này bỏ trốn, việc thu hồi tiền gặp nhiều khó khăn. Trường hợp chiếc xe bị hư hỏng hoặc không thể hoàn trả, anh Khánh phải bồi thường bằng tiền tương ứng với giá trị tài sản.

Tình huống trên đây là tình huống không có thật, chỉ mang tính tham khảo.


Kết luận 

Người thu mua tài sản do trộm cắp mà biết rõ nguồn gốc bất hợp pháp thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 323 Bộ luật Hình sự, với mức phạt tù từ 06 tháng đến 15 năm tùy mức độ. Ngoài ra, có thể bị phạt bổ sung và tịch thu tài sản. Trong khi đó, nếu người mua không biết tài sản do trộm cắp, họ sẽ không bị xử lý hình sự nhưng giao dịch bị vô hiệu, buộc phải hoàn trả tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp. 

GÓC BÌNH LUẬN - THẢO LUẬN
Nghi Doanh
Biên tập

Mình là Lưu Trần Nghi Doanh, hiện đang là thực tập sinh tại Vietnam National Law, và là sinh viên Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài chuyên môn về pháp luật, mình còn có sở thích khác nh...

0 Rate
1
0 Rate
2
0 Rate
3
0 Rate
4
0 Rate
5
0 Rate
Mức đánh giá của bạn:
Tên (*)
Số điện thoại (*)
Email (*)
Nội dung đánh giá