Trên mạng xã hội, mỗi mùa bão lũ lại là thời điểm những chuyến xe chở quà, nụ cười trao tận tay, và phong bì sẻ chia xuất hiện khắp các trang thông tin. Nhưng sau những khoảnh khắc đó, có khi là chiêu trò “làm màu” để đánh bóng cá nhân. Sự kiện Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (UBMTTQVN) công khai 12.028 trang sao kê chiến dịch cứu trợ vùng bão số 3 đã phần nào kéo xuống tấm màn tô vẽ ấy, và giúp chúng ta nhìn rõ hơn giá trị thực của thiện nguyện.
1. Vì sao 12.028 trang sao kê khiến mạng xã hội dậy sóng?
1.1. Tác động xã hội của việc công khai sao kê
Động thái công khai toàn bộ sao kê đã tạo nên một “cơn địa chấn” trên mạng xã hội, bởi lần đầu tiên người dân có thể trực tiếp đối chiếu thông tin với những tuyên bố thiện nguyện từng xuất hiện công khai. Điều này góp phần củng cố niềm tin vào những người làm thiện nguyện chân chính, đồng thời bóc trần những trường hợp “phông bạt” – nơi hành động từ thiện bị biến thành công cụ quảng bá cá nhân. Trong bối cảnh mạng xã hội là kênh lan tỏa chính của các chiến dịch thiện nguyện, tính minh bạch không chỉ bảo vệ mạnh thường quân mà còn duy trì sức bền của lòng tin cộng đồng.
1.2. UBMTTQVN có được phép công khai thông tin đóng góp không?
Việc UBMTTQVN công khai 12.028 trang sao kê, bao gồm đầy đủ thông tin họ tên, số tài khoản, thời gian, số tiền và nội dung chuyển khoản của từng cá nhân, tổ chức, hoàn toàn có cơ sở pháp lý. Theo Điều 4 Nghị định 93/2021/NĐ-CP quy định như sau:
Điều 4. Nguyên tắc tổ chức vận động, tiếp nhận, phân phối và sử dụng nguồn đóng góp tự nguyện
...
4. Tiếp nhận, phân phối và sử dụng tiền, hiện vật đóng góp để khắc phục khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, sự cố và hỗ trợ bệnh nhân mắc bệnh hiểm nghèo đảm bảo kịp thời, hiệu quả, công bằng, công khai, đúng mục đích, đối tượng; có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các cơ quan, bộ, ngành, địa phương, tổ chức và cá nhân có liên quan.
...
Công khai ở đây không chỉ là quyền mà còn là trách nhiệm của cơ quan tiếp nhận, nhằm bảo đảm nguồn lực từ thiện được sử dụng đúng mục đích, tránh gian lận và tạo điều kiện cho người dân, dư luận giám sát. Thực tế, đến 17h ngày 12/9/2024, UBMTTQVN ghi nhận tổng cộng 527,8 tỉ đồng đóng góp và việc công khai đã được lãnh đạo Ủy ban khẳng định là “nhằm lan tỏa hành động đẹp… để nhân dân và dư luận giám sát”.
Nguồn: cafef.vn, vnexpress.net.
2. Từ “check var” đến những dấu vết “phông bạt” khó chối từ
Ngay sau khi UBMTTQVN công bố 12.028 trang sao kê, cộng đồng mạng lập tức bước vào “ca trực đêm” với trào lưu “check var” – kiểm chứng số tiền các cá nhân, tổ chức từng công bố ủng hộ từ thiện. Chỉ bằng vài thao tác tìm kiếm, nhiều khoản quyên góp từng được khoe trên mạng xã hội với con số hàng trăm triệu đồng đã lộ rõ sự chênh lệch so với dữ liệu chính thức, có trường hợp thực tế chỉ bằng một phần nhỏ so với lời tuyên bố. Điển hình là TikToker Việt Anh Pí Po, người từng chia sẻ video thể hiện đã chuyển 20 triệu đồng hỗ trợ miền Trung, nhưng khi đối chiếu sao kê chính thức, số tiền thực tế chỉ là 1 triệu đồng. Trước phản ứng gay gắt của dư luận, anh đã phải đăng clip xin lỗi công khai. Trào lưu “check var” vì thế không chỉ là màn “bóc phốt” giải trí của cư dân mạng, mà đã trở thành một công cụ giám sát cộng đồng hiệu quả, góp phần thúc đẩy sự minh bạch và hạn chế những hành vi tô vẽ trong hoạt động thiện nguyện.
Nguồn: Báo Điện tử Dân trí
3. Hậu quả pháp lý nếu “phông bạt” tiền từ thiện
3.1. Xử phạt hành chính
Khi cá nhân hoặc tổ chức cung cấp thông tin sai sự thật về số tiền đóng góp từ thiện, ví dụ như thổi phồng số tiền đã ủng hộ, chỉnh sửa hình ảnh sao kê hoặc ghi chú giao dịch gây hiểu lầm, hành vi này sẽ bị xử lý theo quy định pháp luật hiện hành.
Điểm a Khoản 1 Điều 101 Nghị định 15/2020/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 14/2022/NĐ-CP) nêu rõ:
Điều 101. Vi phạm các quy định về trách nhiệm sử dụng dịch vụ mạng xã hội
1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi lợi dụng mạng xã hội để thực hiện một trong các hành vi sau:
a) Cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân;
...
Điều 4. Quy định về mức phạt tiền và thẩm quyền phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức
...
3. Mức phạt tiền quy định từ Chương II đến Chương VII tại Nghị định này được áp dụng đối với hành vi vi phạm hành chính của tổ chức, trừ quy định tại Điều 106 Nghị định này. Trường hợp cá nhân có hành vi vi phạm như của tổ chức thì mức phạt tiền bằng 1/2 mức phạt tiền đối với tổ chức.
...
Như vậy, đối với các trường hợp “phông bạt từ thiện” nhưng chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, mức xử phạt hành chính có thể từ 10–20 triệu đồng kèm yêu cầu gỡ bỏ nội dung sai sự thật và công khai xin lỗi. Mức phạt với tổ chức vi phạm sẽ gấp đôi so với cá nhân.
3.2. Truy cứu trách nhiệm hình sự
Khi hành vi gian dối không chỉ dừng ở việc cung cấp thông tin sai sự thật mà còn nhằm chiếm đoạt tài sản từ cộng đồng, người vi phạm có thể bị khởi tố theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Tái phạm nguy hiểm;
đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
g) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;
b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;
c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
...
Điều 331. Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân
1. Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Nếu cá nhân cố tình phông bạt số tiền từ thiện, gian dối về khoản quyên góp nhằm chiếm đoạt tài sản hoặc lừa dối cộng đồng, thì có thể bị truy cứu theo Điều 174 BLHS 2015 – Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Khung hình phạt ở tội này từ cải tạo không giam giữ, phạt tù 6 tháng đến tù chung thân tùy theo giá trị chiếm đoạt (từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng có tình tiết tăng nặng).
Ngoài ra, nếu hành vi phông bạt nhằm lợi dụng quyền tự do ngôn luận để bịa đặt, đưa tin sai sự thật, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín tổ chức tiếp nhận từ thiện và làm suy giảm niềm tin xã hội, thì có thể bị xử lý theo Điều 331 BLHS – Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Khung hình phạt cho tội này là cảnh cáo, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 7 năm, tùy mức độ vi phạm.
Tóm lại, hành vi "phông bạt" tiền từ thiện có thể bị xử lý như sau:
Truy cứu hình sự: Nếu có hành vi gian dối trong việc “phông bạt” tiền từ thiện nhằm chiếm đoạt tài sản, cá nhân vi phạm có thể bị xử lý về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 BLHS), với khung hình phạt từ 06 tháng tù đến tù chung thân tùy theo giá trị chiếm đoạt. Ngoài ra, nếu lợi dụng quyền tự do ngôn luận để đưa tin sai sự thật, bịa đặt nhằm gây ảnh hưởng xấu đến uy tín tổ chức tiếp nhận từ thiện và làm suy giảm niềm tin xã hội, người vi phạm có thể bị truy cứu về Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân (Điều 331 BLHS), với khung hình phạt từ cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến phạt tù 06 tháng – 07 năm tùy mức độ vi phạm.
4. Giải pháp để ngăn chặn “phông bạt” từ thiện
4.1. Duy trì công khai sao kê ở mọi tổ chức tiếp nhận
Thứ hai, việc công khai này còn đóng vai trò như một biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi gian lận hoặc sử dụng sai mục đích nguồn lực. Khi mọi thông tin được minh bạch, nguy cơ sai phạm sẽ giảm đáng kể, đồng thời cộng đồng cũng có cơ sở để giám sát hiệu quả hơn.
4.2. Xử lý nghiêm hành vi giả mạo hoặc sai sự thật
Thứ hai, áp dụng chế tài mạnh mẽ, kể cả xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự với các trường hợp nghiêm trọng, sẽ tạo ra sức răn đe, đồng thời gửi thông điệp rõ ràng rằng mọi hành vi trục lợi từ thiện đều bị lên án và trừng phạt.
4.3. Khuyến khích đóng góp qua kênh chính thức có pháp nhân rõ ràng
Thứ hai, việc này cũng giúp quá trình phân phối hỗ trợ được thực hiện đúng đối tượng, nhanh chóng và hạn chế tối đa thất thoát hoặc bị chiếm dụng trái phép.
4.4. Tôn vinh người làm thiện nguyện thầm lặng, xây dựng văn hóa minh bạch
Thứ hai, khi kết hợp tôn vinh với minh bạch số liệu, chúng ta sẽ dần hình thành một văn hóa thiện nguyện bền vững, nơi mọi đóng góp đều được trân trọng và quản lý minh bạch, góp phần củng cố niềm tin xã hội.
5. Kết luận
“Phông bạt từ thiện” không chỉ làm xói mòn niềm tin xã hội mà còn tiềm ẩn hậu quả pháp lý nghiêm trọng. Người cố ý gian dối về số tiền quyên góp có thể bị xử phạt hành chính theo Nghị định 15/2020/NĐ-CP về hành vi đưa tin sai sự thật, hoặc nặng hơn là bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng. Khi pháp luật được áp dụng nghiêm minh, những chiêu trò khoe mẽ sẽ không còn đất sống, để hoạt động từ thiện trở lại đúng bản chất là sự sẻ chia chân thành và minh bạch.