Trong quản lý nhà nước, việc xử phạt vi phạm hành chính là biện pháp quan trọng nhằm duy trì trật tự xã hội và bảo đảm tính răn đe. Thẩm quyền hủy bỏ quyết định xử phạt thuộc về những cơ quan, cá nhân có trách nhiệm phát hiện và khắc phục sai sót trong quá trình ban hành. Pháp luật cũng quy định rõ những trường hợp người vi phạm sẽ không bị xử phạt để bảo đảm tính công bằng và nhân đạo trong áp dụng chế tài hành chính.
1. Cơ quan nào có thẩm quyền hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính?
Theo khoản 3 Điều 18 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 (sửa đổi 2020):
Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012
Điều 18. Trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong công tác xử lý vi phạm hành chính
...
3. Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, thủ trưởng cơ quan, đơn vị của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính có trách nhiệm phát hiện quyết định về xử lý vi phạm hành chính do mình hoặc cấp dưới ban hành có sai sót và kịp thời đính chính, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới theo thẩm quyền.
Chính phủ quy định chi tiết khoản này.
Căn cứ khoản 1 Điều 13 Nghị định 118/2021/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 68/2025/NĐ-CP):
Điều 13. Hủy bỏ, ban hành quyết định mới trong xử phạt vi phạm hành chính
1. Người đã ban hành quyết định tự mình hoặc theo yêu cầu của những người quy định tại khoản 3 Điều 18 Luật Xử lý vi phạm hành chính phải ban hành quyết định hủy bỏ toàn bộ nội dung quyết định nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Xử lý vi phạm hành chính;
b) Quy định tại khoản 3 Điều 62 Luật Xử lý vi phạm hành chính;
c) Ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 65 Luật Xử lý vi phạm hành chính;
d) Quyết định trong xử phạt vi phạm hành chính được ban hành không đúng thẩm quyền hoặc không đúng đối tượng;
đ) Vi phạm thủ tục trong xử phạt vi phạm hành chính dẫn đến vi phạm quy định tại các điểm c, d, e, g và h khoản này;
e) Xác định hành vi vi phạm hành chính không đúng hoặc xác định hành vi vi phạm hành chính trong trường hợp không có vi phạm hành chính xảy ra;
g) Áp dụng hình thức xử phạt không đúng đối với hành vi vi phạm hành chính;
h) Giả mạo, làm sai lệch hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính.
...
Quy định pháp luật đặt trách nhiệm trực tiếp cho người ban hành quyết định hoặc cấp trên của họ trong việc kiểm tra, phát hiện và kịp thời hủy bỏ các quyết định xử phạt vi phạm hành chính không đúng. Điều này nhằm bảo đảm tính khách quan, công bằng và tránh gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức bị xử phạt sai.
Việc hủy bỏ quyết định xử phạt có thể xảy ra trong nhiều trường hợp như xác định sai hành vi vi phạm, áp dụng hình thức xử phạt không đúng, ra quyết định khi không có thẩm quyền, hoặc quyết định ban hành dựa trên hồ sơ giả mạo, sai lệch. Khi đó, người có thẩm quyền không chỉ hủy bỏ quyết định cũ mà còn có thể ban hành quyết định mới đúng quy định pháp luật.
Tình huống giả định:
-
Quyết định xử phạt sai thẩm quyền
Tháng 5/2025, Công an phường Hoàng Mai thuộc TP. Hà Nội ban hành quyết định xử phạt hành chính đối với Công ty TNHH Ánh Dương về hành vi xây dựng không phép, trong khi theo quy định, thẩm quyền xử phạt thuộc Chủ tịch UBND quận. -
UBND quận phát hiện sai sót
Sau khi rà soát, Chủ tịch UBND phường Hoàng Mai xác định quyết định xử phạt nói trên được ban hành sai thẩm quyền nên đã ra quyết định hủy bỏ toàn bộ nội dung quyết định cũ, đồng thời ban hành quyết định xử phạt mới theo đúng thẩm quyền. -
Bảo đảm tính công bằng pháp lý
Nhờ cơ chế này, hành vi vi phạm của doanh nghiệp vẫn được xử lý đúng quy định nhưng đồng thời bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp không bị xâm hại bởi quyết định trái thẩm quyền.
(Tình huống trên đây là tình huống không có thật, chỉ mang tính tham khảo.)
2. Khi nào người vi phạm không bị xử phạt vi phạm hành chính?
Điều 11 Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012 quy định:
Luật Xử lý vi phạm hành chính 2012
Điều 11. Những trường hợp không xử phạt vi phạm hành chính
Không xử phạt vi phạm hành chính đối với các trường hợp sau đây:
1. Thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong tình thế cấp thiết;
2. Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do phòng vệ chính đáng;
3. Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do sự kiện bất ngờ;
4. Thực hiện hành vi vi phạm hành chính do sự kiện bất khả kháng;
5. Người thực hiện hành vi vi phạm hành chính không có năng lực trách nhiệm hành chính; người thực hiện hành vi vi phạm hành chính chưa đủ tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 5 của Luật này.
Khi hành vi vi phạm phát sinh từ tình thế cấp thiết hoặc do phòng vệ chính đáng thì người thực hiện không bị coi là có lỗi. Tương tự, nếu hành vi xuất phát từ sự kiện bất ngờ hoặc bất khả kháng mà người vi phạm không thể lường trước hay ngăn ngừa thì cũng không bị xử phạt.
Ngoài ra, những người không có năng lực trách nhiệm hành chính (ví dụ: người mắc bệnh tâm thần nặng) hoặc chưa đủ tuổi theo quy định pháp luật thì cũng không bị xử phạt hành chính.
Tình huống giả định:
-
Vi phạm trong tình thế cấp thiết
Tháng 6/2025, TP. Đà Nẵng, anh Trần Minh Quân điều khiển xe ô tô vượt đèn đỏ để đưa một người bị tai nạn giao thông đi cấp cứu. -
Cơ quan chức năng xử lý
Ban đầu, Cảnh sát giao thông lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính về hành vi vượt đèn đỏ. Tuy nhiên, sau khi xác minh tình huống, cơ quan công an xác định hành vi của anh Quân thuộc trường hợp tình thế cấp thiết. -
Kết quả áp dụng quy định
Cơ quan công an đã hủy biên bản xử phạt, anh Quân không bị xử phạt hành chính vì hành vi này được pháp luật loại trừ trách nhiệm.
(Tình huống trên đây là tình huống không có thật, chỉ mang tính tham khảo.)
3. Kết luận
Thẩm quyền hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính thuộc về Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch UBND các cấp và thủ trưởng cơ quan, đơn vị của người có thẩm quyền xử phạt. Pháp luật cũng xác định rõ những trường hợp người vi phạm không bị xử phạt như khi hành vi diễn ra trong tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ, bất khả kháng hoặc do người không có năng lực, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm.